Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
Đối với trách nhiệm dân sự có thể nói đây chính là một chế tài của ngành luật dân sự, đồng thời, trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là một chế tài trong nghĩa vụ. Hay nói cách khác, đối với các chủ thể tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, bên cạnh việc để cho các bên trong quan hệ nghĩa vụ sẽ tự giác thực hiện, tiến hành nghĩa vụ hay trách nhiệm của mình, pháp luật còn đưa ra các biện pháp có tính cưỡng chế nhằm thúc đẩy ảnh hưởng đến ý thức tự giác của các chủ thể và điều này áp dụng khi chủ thể vi phạm nghĩa vụ.
Xem thêm: thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu
Do đó, phụ thuộc vào tính chất hay mức độ hậu quả của vi phạm nghĩa vụ mà trách nhiệm dân sự này được phân chia thành 02 loại dưới đây:
Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:
Những trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là khi bên có nghĩa vụ mà nếu vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên được hưởng quyền. Theo đó, vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng với thời hạn đã quy định trước đó hay tiến hành thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng với nội dung đã quy định của nghĩa vụ.
Tuy nhiên, nếu vi phạm này chưa gây ra các thiệt hại thì người vi phạm nghĩa vụ chỉ có trách nhiệm thực hiện đúng theo nghĩa vụ. Nếu vi phạm nghĩa vụ gây ra thiệt hại cho người bị vi phạm thì người vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo đúng quy định hiện hành của pháp luật.
Đối với loại trách nhiệm này, người vi phạm nghĩa vụ vẫn sẽ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên kia trong quan hệ nghĩa vụ. Trường hợp bên có quyền đã yêu cầu mà bên có nghĩa vụ thực hiện vẫn không thực hiện thì họ có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, tiến hành những biện pháp cưỡng chế bắt buộc buộc bên còn lại phải thực hiện nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
Những loại trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật
- Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (theo Điều 356 BLDS năm 2015)
- Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do không thực hiện hoặc không tiến hành được thực hiện một công việc (theo Điều 358 BLDS năm 2015)
- Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền (theo Điều 357 BLDS năm 2015)
- Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ (theo Điều 359 BLDS năm 2015).
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nghĩa vụ dân sự
Xem thêm: Tìm hiểu điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu
Cơ sở của trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ
Có hành vi tiến hành trái với quy định pháp luật
Như đã nói ở trên, một người có nghĩa vụ mà không thực hiện hay tiến hành thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo quy định thì sẽ là vi phạm pháp luật về nghĩa vụ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp không thực hiện nghĩa vụ không bị coi là trái pháp luật. Chính vì lẽ đó, người không thực hiện nghĩa vụ không phải bồi thường thiệt hại, dưới đây là một số trường hợp đặc biệt:
- Căn cứ theo khoản 3 Điều 351 BLDS năm 2015, nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người được hưởng có quyền.
- Căn cứ theo khoản 2 Điều 351 BLDS năm 2015 xét thấy trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ với sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, ngoại trừ khi xảy ra thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Xảy ra những thiệt hại xảy có trong thực tế
Trong thực tế, thiệt hại xảy ra do vi phạm nghĩa vụ bao gồm: những tài sản bị mất mát hoặc bị hủy hoại hoàn toàn, những hư hỏng, giảm sút giá trị về tài sản, những chi phí mà người bị vi phạm phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những hậu quả do người vi phạm nghĩa vụ gây ra, những tổn thất do thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút.
Xảy ra mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật với thiệt hại xảy ra
Xảy ra mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật với thiệt hại xảy ra ở đây có nghĩa được hiểu như là một mối quan hệ giữa chúng có mối liên hệ nội tại và tất yếu. Trong mối quan hệ này thì hành vi vi phạm là nguyên nhân và đây cũng là nguyên nhân gây ra thiệt hại và thiệt hại đã xảy ra chính là kết quả. Còn chỉ khi nào thiệt hại xảy ra thì mới được coi là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm pháp luật thì người vi phạm mới phải bồi thường thiệt hại.
Người vi phạm nghĩa vụ phải có lỗi
Căn cứ theo điều 360 BLDS năm 2015 quy định như sau: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Xem thêm: Mẫu đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới nhất

Nhận xét
Đăng nhận xét