Xử phạt kinh doanh mặt hàng trái phép?
Xử phạt kinh doanh mặt hàng trái phép?
Kinh doanh trái phép là một hành vi, hoạt động thường dễ thấy trong xã hội hiện nay. Dù vậy, không phải ai cũng hiểu được rằng chính xác là hành vi, hoạt động này cụ thể là như thế nào? Đồng thời hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật. Thậm chí có những người ngang nhiên kinh doanh trái phép mà không biết hoặc không màng tới hậu quả xử phạt. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thêm thông tin về những thắc mắc trên, cùng tìm hiểu ngay nhé!
Xem thêm: https://luatcongty.vn/ma-so-thue-ca-nhan-duoc-phap-luat-quy-dinh-nhu-the-nao/
Thế nào là kinh doanh trái phép?
Trước khi tìm hiểu về mức xử phạt hành vi kinh doanh trái phép, bạn phải hiểu được kinh doanh trái phép là gì.
Kinh doanh trái phép được hiểu là hành vi kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy phép.
Hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung BLHS 2015 ban hành năm 2017 có hiệu lực đã bãi bỏ quy định về tội kinh doanh trái phép nghĩa là hành vi này sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa mà chỉ bị xử lý vi phạm hành chính.
Việc xử phạt các vi phạm về kinh doanh trái phép
Đối với trong hệ thống pháp luật hiện hành, việc xử phạt các vi phạm hành chính với hành vi kinh doanh những mặt hàng không đúng ngành nghề theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trước đó căn cứ theo điều 6, nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thì xử phạt dưới hình thức như dưới sau đây:
– Xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh không đúng ngành nghề, mặt hàng, địa điểm kinh doanh ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh mà không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định.
– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động kinh doanh khi đã bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đình chỉ kinh doanh hoặc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
– Có thể phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định bắt đầu từ khoản 1 đến khoản 3 Điều này nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 trong trường hợp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện.
Đồng thời kèm theo các quy định tại Khoản 7 Điều 1 Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung theo một số điều của Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, mua bán hàng cấm hàng giả và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì Kinh doanh không đăng ký doanh nghiệp thì sẽ phải bị xử lý như sau:
“Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định”.
Hành vi kinh doanh trái phép khi thuộc một trong các trường hợp trên thì sẽ bị xử phạt theo hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành.
Hoạt động kinh doanh khi xảy ra đối với trong nhiều trường hợp không những cần có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà còn cần có giấy phép hoạt động nên nếu vi phạm một trong hai loại giấy tờ này thì chủ thể kinh doanh cũng sẽ bị xử phạt.
Xem thêm: phần mềm đăng ký mã số thuế cá nhân
Đối với các hành vi cần truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì Tội kinh doanh các mặt hàng trái phép theo quy định của pháp luật thì đã được các nhà làm luật bãi bỏ những quy định đó nhằm sao cho thích ứng, phù hợp với nguyên tắc đảm bảo quyền tự do được kinh doanh, buôn bán được ghi nhận, xác thực trong các văn bản pháp lý cao nhất của đất nước – chính là trong Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì đã có những quy định về Tội kinh doanh trái phép với các khung hình phạt khác nhau nên khi hết hiệu lực thì tội này sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.
Tuy nhiên, nếu hành vi vi phạm đó đã diễn biến và đã xảy ra ra trước 00 giờ 00 ngày 01 tháng 07 năm 2016, khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực mà vụ án hình sự vẫn đang trong các giai đoạn của tố tụng hình sự thì áp dụng hiệu lực hồi tố, có nghĩa là vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật cũ để tiến hành xử lý vụ án đó.
Còn các hành vi xảy ra sau thời gian đó thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với hành vi kinh doanh trái phép thì hiện nay pháp luật chỉ quy định hình thức xử phạt là xử phạt vi phạm hành chính.
Xem thêm: đăng ký tài khoản nộp thuế điện tử

Nhận xét
Đăng nhận xét